Bạn nghĩ sao về góc độ: 3G - Sự hội tụ giữa Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin
08.06.2009 11:02
Đây chính là chủ đề của buổi giao lưu trực tuyến cùng ông Hoàng Ngọc Diệp- Nguyên giám đốc cao cấp của Qualcomm, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin- được tổ chức tại diễn đàn didongCDMA.vn
xelong 2 hỏi : Quả thật, em
cũng hok rành về di động này lém!!! nhưng em nghĩ có 1 câu hỏi mà đa số
những bạn như em sẽ đặt ra ở đây là 3G là gì??? và nó có ý nghĩa như
thế nào cho cuộc sống của mỗi con người chúng ta!!!??? cách thức hoạt
động của nó như thế nào?? tính năng của nó ra sao???khi nào chúng ta
mới có thể chính thức sử dụng nó???
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi : Một cách ngắn gọn, 3G là môi trường di động kết hợp các dịch vụ thoại,
SMS, Wap thông thường với khả năng truyền tải dữ liệu băng thông rộng
(tương đương với ADSL, hoặc hơn hoặc kém chút ít tuỳ theo các phiên bản
băng thông rộng mỗi mạng sử dụng). Từ khả năng này, các mạng 3G có thể
đưa các giải pháp CNTT để cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau.
Bạn có thể tham khảo thêm trên diễn đàn này về 3G là gì, các dịch vụ
gì, ích lợi gì, v.v… (đề nghị các mod của diễn đàn đưa ra một số links
để tham khảo thêm).
Theo kế hoạch thì các mạng có thể có các dịch vụ trên nền 3G trong vòng
cuối năm nay. Điều này có thể xảy ra nhưng chỉ với một số dịch vụ rất
cơ bản mà thôi vì những trở ngại, thách thức từ góc độ chưa sẵn sàng
của CNTT trong nước.
Nguyên văn bởi Rhys
Bác
Diệp cho em hỏi khái niệm công nghệ thông tin và các lớp hỗ trợ nền
tảng công nghệ thông tin giai đoạn hiện nay như thế nào , áp dụng vào
chuẩn 3G ra sao ?
và xu hướng phát triển các gói SDK cho nền tảng 3G cũng như kỹ thuật
thông tin qualcomm áp dụng để chuẩn hóa và phát triển 3G trong giai
đoạn hiện nay và hướng phát triển tương lai ?
Những vấn đề này vietnam đã có bước ứng dụng và triển khai như thế nào ?,
cụ thể là vấn đề áp dụng cho các nhà mạng trong quá trình triển khai 3G? (em thấy 3G nhật bản rất thành công với i-mode)
Nói chung em lơ mơ quá, mong Bác Diệp giải thích dùm
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Trên diễn đàn này đã có 1 loạt bài về CNTT cho các mạng 3G và những ứng
dụng hoạt động trên nền CNTT này của Nguyên Chi (tải lại từ Thế Giới @)
viết từ giữa tháng 6/2007 nhưng vẫn còn có giá trị cho hiện nay, em có
thể xem qua rồi từ đó tôi có thể giúp thêm thông tin để bổ sung nhé.
Một số links cho các bài này gồm:
http://didongcdma.vn/forum/showthread.php?t=1069
http://didongcdma.vn/forum/showthread.php?t=1139
http://didongcdma.vn/forum/showthread.php?t=1177
http://didongcdma.vn/forum/showthread.php?t=1292
http://didongcdma.vn/forum/showthread.php?t=1515
Nguyên văn bởi thaonguyen
Nói
đến 3G là phải nói đến các ứng dụng của nó, thực tế hiện nay sử dụng
các ứng dụng hiện có của các mạng di động thì phần đông ở thế hệ 8x,
trong khi đó 7x 6x rất ít sài các ứng dụng và phần đông không có thói
quen sử dụng các dịch vụ di động, trừ các dịch vụ sms, nhưng lứa tuổi
này là những khách hàng tiềm năng, mặc dù giá cước di động hiện chưa
công bố. Như vậy trong việc triển khai các dịch vụ của mình, các nhà
cung cấp dịch vụ đã có cách nào đó để thay đổi thói quen sử dụng dịch
vụ của khách hàng chưa, và vài ví dụ làm thế nào để thay đổi thói quen
này của khách hàng ở các mạng nước ngoài đã làm.
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Với góc độ xây dựng khách hàng 3G từ phía các nhà cung cấp dịch vụ, họ
có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, có lẽ đối với môi trường tại
VN thì nên đa dạng hoá các phân khúc thị trường. Việc này các mạng di
động trong nước chưa làm (hay có đi chăng nữa cũng chỉ cho có!).
- Đối với phân khúc lớn nhất là người tiêu dùng chung, hiện nay phân
khúc này chiếm hơn 99% khách hàng của tất cả các mạng di động, thì nhất
định cần có thời gian để khách hàng làm quen qua một số dịch vụ 3G đơn
giản, việc này cũng phù hợp với sự hạn chế của hạ tần vô cùng giới hạn
hiện nay của phía CNNT trong nước. Tôi không cho phân khúc này mang lại
hiệu quả kinh doanh đủ cho các mạng 3G trong vòng vài năm tới. Chỉ khi
nào:
(a) các mạng 3G có những dịch vụ giá trị cao phục vụ cho doanh nhân và những người có thu nhập trên trung bình;
(b) thói quen sử dụng các ứng dụng trên đtdđ được nâng cao, thì khi đó
phân khúc này có thể mang lại doanh thu cao đủ để mang lại hiệu quả
kinh tế cho các mạng 3G.
- Đối với các phân khúc khác, như tổ chức nhà nước,tổ chức kinh doanh,
v.v… thì cho dù hạ tần CNTT vẫn còn rất hạn chế, các mạng 3G vẫn có thể
giới thiệu được một số giải pháp, ứng dụng, dịch vụ để phục vụ những
nhu cầu chuyên sâu của từng nhóm trong các phân khúc này. Có lẽ đây
chính là cơ hội trước mắt của các mạng 3G để tạo thu nhập đáng kể. Đối
với các phân khúc này, các mạng 3G sẽ không phải lo chuyện mất thời
gian tạo thói quen cho khách hàng vì chính những ứng dụng hay dịch vụ
này có thể mang lại những tiện ích thực tế cho khách hàng, ngay cả giải
quyết được phần lớn nhu cầu hoạt động hay bức xúc hàng ngày của khách
hàng hiện nay.
Nguyên văn bởi huongdongconoi:
Kính gởi Anh Diệp
Nhân dịp giao lưu trực tuyến về "3G -Sự hội tụ giữa viễn thông và CNTT". Em xin hỏi anh 2 câu hỏi dưới đây:
1. Anh có thể cho biết rõ hơn về tính hội tụ của VT, CNTT và ngay cả truyền hình của 3G?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
1. Tính hội tụ của VT – CNTT – TTTH.
3G là một môi trường đòi hỏi sự hợp tác gần như toàn diện giữa Viễn
Thông và CNTT, vì bên cạnh việc xây dựng một mạng viễn thông 3G (gồm cả
thoại lẫn data băng thông rộng), nhà khai thác phải song song đầu tư
những hệ thống IT hỗ trợ Internet và hầu hết tất cả các hoạt động của
các mạng data “truyền thống” đáp ứng các yêu cầu cho eGoverment,
eCommerce, eHealthcare, eLearning, eSecirity, v.v… chưa kể các hệ thống
định vị (GPS).
Mặt khác, những nhu cầu về Video, MobileTV, v.v… cũng tạo ra một sự hội
tụ giữa Viễn Thông, CNTT và Truyền Hình/Truyền Thanh. Việc tạo một
chiếc máy di động hỗ trợ xem TV chỉ là 1 phần nhỏ chưa có tính hội tụ,
nhưng sau hơn 5 năm triển khai các nền mobileTV khác nhau trên các nuớc
dẫn đầu về 3G, thì thế giới đã nhận thấy rằng việc quản lý chất lượng
dịch vụ, phục vụ khách hàng, thu phí tiên lợi cho khách hàng, giảm
thiểu sử dụng tài nguyên quốc gia, bảo vệ quyền lợi nhà khai thác 3G,
v.v… thì việc khả năng hỗ trợ xem truyền hình trên máy di động mà không
có sự tích hợp vào chung 1 hệ thống là không hợp lý, không mang lại
thêm giá trị kinh tế cho nhà khai thác 3G, hoặc nếu có thu phí thì là
khó khăn cho khách hàng hơn, cũng như việc sử dụng băng thông rộng của
mạng 3G để chuyển tải nội dung truyền hình là chuyện không thể thực
hiện cho số lượng lớn khách hàng sử dụng dịch vụ này.
Bên cạnh, với sự chin muồi của công nghệ truyền thanh/truyền hình cùng
với sự hỗ trợ của công nghệ nano, việc chuyển tải thông tin hình ảnh và
âm thanh hai chiều, đa chiều sẽ trở thành hiệu thực trong các năm tới,
sẽ biến việc hội tụ Viễn Thông – CNTT – Truyền Hình/Truyền Thanh là một
lẽ “tự nhiên”.
Nguyên văn bởi huongdongconoi
2. Hiện nay theo nhận định của anh thì các kế hoạch phát triển hạ tần
3G có gì phải quan ngại? Liệu hạ tần CNTT có đáp ứng được những yêu cầu
để hội tụ với VT để triển khai các dịch vụ 3G?
Mong nhận được lời phúc đáp của anh
Cảm ơn anh nhiều
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Dưới đây cũng là câu trả lời cho 2 câu hỏi của Trungduong luôn nhé:
2. Quan ngại cho việc triển khai 3G tại VN (cũng là câu trả lời cho bạn trungduong luôn nhé)
Theo nhận đinh của cá nhân tôi thì có khá nhiều quan ngại:
A. Viễn Thông:
Tuy là còn một số khó khăn trong các góc độ như hàng lang pháp lý, quy
định, quy hoạch, quản lý, chất lượng hạ tần chung của Viễn Thông VN,
v.v… nhưng những khó khăn này không quá lớn và có thể khắc phục được
trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, để bảo đảm được sự phát triển của
3G một cách lành mạnh và bền vững thì ngành phải sớm triển khai các
giải pháp:
- Mobile Number Portability. Hỗ trợ khách hàng giữ được số
thuê bao của mình cho dù muốn chọn dịch vụ từ bất kỳ nhà khai thác nào,
vì giảm được tình trạng khách hàng phải lệ thuộc vào 1 mạng nếu muốn
tiếp tục lưu giữ số thuê bao của mình, các nhà khai thác phải chú tâm
hơn tới chất lượng phục vụ chứ không ỷ lại như thời gian qua. Hỗ trợ
ngành quản lý thuê bao ảo và quản lý hiệu quả hơn tài nguyên của quốc
gia.
- Clearing House: Hỗ trợ giảm thiểu tranh chấp giữa các
nhà khai thác trong kết nối và lưu lượng liên mạng cũng như làm nền
tảng cho sự cạnh tranh lành mạnh trong góc độ kết nối liên mạng.
- MVNE: xây dựng MVNE để hỗ trợ các hoạt động của MVNO,
tận dụng tối đa tài nguyên và hạ tần VT quốc gia, cũng như tạo điều
kiện cho các nhóm, khác hơn là các nhà khai thác 3G chính, cung cấp các
dịch vụ 3G đa dạng và phong phú.
- Hành lang pháp lý: tất nhiên những các bộ luật liên quan cũng phải được bổ sung để tạo ra những hàng lang pháp lý hỗ trợ cho các hoạt động này.
B. CNTT
Ngược lại, hạ tần CNTT VN so với hạ tần VT VN hiện nay để hỗ trợ sự
phát triển 3G một cách đồng bộ thì rất “mệt”! hạ tần CNTT hiện nay tại
VN còn rất sơ khai, có quá nhiều điều cần phải khắc phục trước khi hạ
tần CNTT có thể bắt kịp để cùng song song phát triển. Một số góc độ
quan trọng sẽ làm chậm trể không những là các dịch vụ 3G mà còn những
nhu cầu chính yếu cho nhu cầu IT chung của VN như sau:
- CSDL chung (hạ tần thông tin): Hiện nay, mọi ban ngành
đều bị giới hạn vì chưa có CSDL để hoạt động. Các nỗ lực nhập dữ liệu
trên giấy bằng thủ công, hay scan bằng các giải pháp OCR không hề có
một quy trình để bảo đảm tính pháp lý của thông tin, từ đó, nhưng thong
tin đã được số hoá phần lớn là chỉ để tham khảo chứ không có giá trị
pháp lý đủ cho các hoạt động trên mạng của văn bản số. Hành lang pháp
lý để công nhận tình pháp lý của văn bản số cũng chưa được hình thành
với các tiêu chuẩn rõ rang và phù hợp với thế giới. Hơn nữa, hơn 99%
các văn bản pháp lý từ cấp chính phủ đến mỗi cá nhân vẫn cứ còn nằm
trên văn bản giấy.
- Các hệ thống IT lớn (xương sống IT của quốc gia): Bên
cạnh một số hệ thống ngân hàng để phục vụ cho hoạt động riêng của từng
ngân hàng và giới hạn trong vòng khách hàng của họ, gần như hầu hết các
hệ thống IT lớn, quan trong đủ để làm “xương sống” cho hoạt động của
ngành IT quốc gia vẫn chưa được thành hình. Không những vì sự thách
thức của việc xây dựng CSDL như nêu trên, ngành CNTT mình vẫn chưa có
những cấu trúc, phương pháp quản lý, quy trình, kiển tra chất lượng,
triển khai, đánh giá, quản lý rủi ro, đào tạo sử dụng, v.v… chuẩn để
mọi tổ chức tuân thủ mà phát triển riêng cho tổ chức của mình, để sau
đó có thể kết nối với nhau.
- eGovernment, eCommerce, eHealthcare, eLearing, v.v… đều
là nền giải pháp dựa trên các mạng IT lớn dung chung nêu trên, các CSDL
lớn của quốc gia cũng phải có cấu trúc chung để kiểm tra đối chéo, các
tiêu chuẩn về bảo mật, CKĐT, xác nhận, thanh toán, báo cáo, v.v… cũng
sẽ phải được tích hợp vào các giải pháp này. Như vậy, việc tạo dựng cho
thành công các nền giải pháp này sẽ còn mất nhiều thời gian. Điều nhức
đầu là chính các nền giải pháp này clại chính là nền IT cho những dịch
vụ nâng cấp cho các dịch vụ 3G!
- Nhân lực CNTT: Mặc dù VN mình có khá nhiều chuyên viên
kỹ thuật, tuy nhiên hầu hết họ là những chuyên viên chuyên sâu vào
những ứng dụng, giải pháp nhỏ. Rất ít chuyên gia về hệ thống IT lớn,
còn ít hơn nữa là chuyên gia về quản trị IT. Trong lĩnh vực CNTT này,
cũng như những lĩnh vức công nghệ cao khác, việc “vừa làm vừa học và
rút kinh nghiện” là việc không tưởng, chỉ cần cách tiếp cạn sai là
tiêu, chỉ cần 1 quy trình quản lý triển khai sai là thất bại, chỉ cần 1
tiêu chuẩn bảo mật chưa đạt yêu cầu là xảy ra tai nạn tới mức! như vậy
thì ngành CNTT VN mình làm sao đây? Chờ tới khi mình có đủ nhân sự?
Mướn nhân sự bên ngoài? Giao hết cho nước ngoài làm?
- Hành lang pháp lý: Một trong những bất cập lớn của
phương pháp làm luật của VN, đặc biệt là ngành CNTT, một trong những
ngành công nghệ cao của cả thế giới, đó là chúng ta chỉ có những khung
định từ phía lập pháp, trong khi đó chúng ta lại có những văn bản dưới
luật để bổ sung! CNTT là một ngành có rất nhiều hoạt động “không biên
giới” quốc gia, chẳng hạn như tiêu chuẩn bảo mật, tiêu chuẩn pháp lý
của văn bản số, tiêu chuẩn và quy trình duyệt xét để thanh toán xuyên
quốc gia, v.v… tất cả những tiêu chuẩn này đều phải tuân thủ và đáp ứng
được các yêu đầu chung của thế giới, những quôc gia nào chưa hình thành
được thì vẫn chưa được giao diện để hoạt động chung với các nước khác.
Các nước lớn trên thế giới đã sử dụng luật CNTT của nhau từ 100% (như
giữa Canada và Úc) hay hơn 80% (như hàn Quốc hoặc Trung Quốc so với
Canada), việc VN mình phải mạnh dạn so sánh và sớm bổ sung kịp những
tiêu chuẩn, pháp lệnh, v.v… để phù hợp với các điều kiện chính yéu của
thế giới là một việc cần kíp.
- Tổ chức triển khai: Kể các bạn 1 câu chuyện vui nhé: Cách đây 2 tuần tôi đang công tác ở Bắc Mỹ, một trường đại học bên đó hỏi tôi: “Có phải Bộ TT-TT chịu trách nhiệm về phát triển IT VN?”, tôi trả lời: “đúng vậy!”, “như vậy thì chắc chúng tôi sẽ phải thăm viếng để hỗ trợ họ về phát triển eCommerce” họ bảo, tôi trả lời”
về eCommerce thì quý vị nên tiếp cận Bộ Công Thương vì họ đã được giao
nhiệm vụ triển khai tại VN, nhưng quý vị muốn giúp họ việc gì vậy?”, họ bảo: “giới thiệu những tiêu chuẩn cần thiết để triển khai eCommerce và kinh doanh với cả thế giới”, tôi cười bảo: “ồ! Như vậy thì quý vị nên đến Bộ KH0CN vì họ chịu trách nhiệm về các tiêu chuẩn khoa học”!
Đúng là mình tự tạo mình khó đây! Bên cạnh, việc cứ triển khai dàn trải
trước khi thử nghiệm và triển khai giới hạn để đánh giá và đào tạo đủ
các đội ngũ kỹ thuật đã làm nhiều dự án IT hoàn toàn thất bại, nếu cách
làm này cứ tiếp tục thì CNTT cứ dài dài thất bại!
Các điều trên chỉ là những “quan ngại” lớn sẽ cản trở sự phát triển của
IT VN cũng như sự phát triển của các dịch vụ 3G. Ngoại trừ trong trường
hợp các mạng 3G và các tổ chức chính phủ có trách nhiệm trong việc phát
triển CNTT cùng hợp lực với chuyên gia trong và ngoài nước, loại bỏ
những quy chế quy định cứng nhắc và phản khoa học (như “Quy chế Đấu
thầu” áp dụng cho ngành xây dựng), và mạnh dạn hình thành các chương
trình phát triển hợp lý, nếu không thì… còn lâu lắm đó!
Nguyên văn bởi de men
Có
thể câu hỏi này nằm hơi ngoài lề, nhưng anh có thể cho biết ý kiến của
anh về những chuyện “xé rào” vừa qua đăng tải rầm rộ trên báo chí những
chuyện của OCI, VTC… hiện nay ngành TT-TT đã có những hoạt động gì để
ngăn chận hiệu quả những kiểu “xé rào” khác nhau có thể xảy ra khi
triển khai 3G?
xin chân thành cảm ơn
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Đây là câu hỏi đúng là có phần ngoài lề, nhưng tôi vẫn trả lời vì nó
cũng có phần liên quan khá quan trọng trong quá trình phát triển và hội
tụ VN & CNTT trên 3G vào các năm tới.
Hình như có lẽ chuyện “xé rào” bạn đặt ra xảy ra khắp nơi, từ chuyện
nhỏ như vượt đèn đỏ (khi không có công an trực) cho tới việc lấy lý do
là “phục vụ phát triển” hay “phục vụ cộng đồng nghèo” v.v… Trong 2 dẫn
chứng của bạn (phần "…" thì tôi không biết nên không thể có ý kiến!),
cá nhân tôi nhận thấy thế này nhé:
- Trong 1 xã hội việc tuân thủ luật pháp là việc quan trọng hàng đầu để
cùng chung sống và phát triển, néu luật đó có bất cập vì bất cứ lý do
gì thì mình phải lên tiếng để bổ sung hay thay đổi cho phù hợp, trong
khi luật chưa thay đổi thì mình vẫn phải tuân thủ.
- Đối với OCI: Việc 1 công ty tư nhân vì lợi nhuận mà từ kinh doanh
VoIP, VoInetrnet (PC to Phone hoặc có giới hạn khác) cho tới Phone -
over internet – Phone, thì quả thật là có “xé rào” chút chút và phải
gặp nạng hy vọng là chút chút thôi!
- Tuy nhiên đối với VTC thì khác: VTC là 1 tổng công ty nhà nước, đi
phát song analogue khi không có phép, tại các tần số không được cấp
phép làm ảnh hưởng và nhiễu song cho các đài đang hoạt động có phép,
trong vòng nhiều năm, để rồi bị phạt (chỉ ở TP HCM) rồi lại đưa lý do
là phục vụ người nghèo thì không thể chấp nhận được đưới bất kỳ góc độ
nào hết! Tổng công ty nhà nước mà không làm gương cho các công ty khác
còn lại ỷ lại để làm trái luật và nguỵ biện như vậy là vô cùng đáng
trách. Nếu nhà nước mà lơ thì làm sao mà “hành pháp” nũa đây!
Các hoạt động “xé rào” này đã xảy ra rất nhiều trong ngành VT – CNTT,
nhưng hầu hết không chuyện gì xảy ra vì “đây là ngành chuyên môn quá
nên thanh tra không nổi”, nếu với 3G hình thành, rồi eGovernment,
eCommerce, eBanking, v.v… bắt đầu hình thành mà các công ty nhà nước và
tư nhân lớn cứ tiếp tục “xé rào” với “phá luật” thì chắc là loạn luôn
Nguyên văn bởi lasthero
Thưa
chú Diệp, cháu xin phép đặt câu hỏi: “Như chúng ta đã biết thì vấn đề
bảo mật trong Công Nghệ Thông Tin vẫn là một vấn đề rất nóng và nan
giải. Vậy “ Sự hội tụ giữa Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin ở mạng 3G”
sẽ ảnh hưởng và có tác động thế nào đến vấn đề bảo mật? Liệu sự hội tụ
giữa 2 yếu tố này sẽ mang lại tính bảo mật cao hơn cho khách hàng và
nhà cung cấp hay sẽ tạo thêm nhiều cơ hội và kẻ hở mới cho các hacker
lợi dụng? Và hiện nay chúng ta đã có những biện pháp nào để đối phó với
vấn đề này?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Về phần Viễn Thông thì với WCDMA (hay CDMA), trải phổ, v.v… là khá ổn.
Tuy nhiên đúng như bạn đưa ra trong CNTT nếu mình không nghiêm chỉnh
tuân thủ theo các yêu cầu bảo mật cao nhất (tốn tiền đấy nhé), thì các
cracker, hacker có khối cơ hội lợi dụng nó. Tuy nhiên, cũng đừng quá
lo, nếu mình tuân thủ theo các yêu cầu bảo mật cao của thế giới thì
việc bị hacker lợi dụng không lớn đâu! Nếu lớn thì các mạng IT của
Wallstreet và các ngân hàng lớn thể giới chắc tiêu từ lâu rồi! Nếu muốn
biết về những tiêu chuẩn và giải pháp bảo mật, bạn nên tham gia các
diễn đàn và hiệp hội về bảo mật thông tin hiện nay cũng đã hình thành
tại VN.
Nguyên văn bởi Amateur
Về
vấn đề: Sự hội tụ giữa Viễn thông và Công nghệ Thông Tin không chỉ có
trên lý thuyết hoặc ở trong các cuộc hội thảo mà thực tế đã có những
nhà cung cấp thiết bị vào cuộc.
Cụ thể đã có những nhà sản xuất thiết bị máy tính như LG đã đưa ra thị
trường “Netbook hội tụ” (Convergence Nebook) được trang bị khả năng kết
nối mạng di động 3G HSPA tốc độ cao. Đây có thể xem là thể hiện sự hội
tụ giữa công nghệ điện thoại di động với công nghệ PC. Ông có dự báo
hoặc nhận định gì về thị trường thiết bị này (thiết bị có tích hợp công
nghệ 3G) trong tương lai khi 3G được triển khai tại Việt Nam ...(vai
trò của nó với việc phát triển các thuê bao 3G).
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Đúng như bạn đưa ra, hội tụ các lĩnh vực lớn như Viễn Thông và CNTT
không chỉ trên bình diện lý thuyết mà đòi hỏi sự đồng điệu của rất
nhiều lĩnh vực, như chính sách thế giới (ITU chẳng hạn), công nghệ (3G
chẳng hạn), đồng thuận của các quốc gia và khu vực (3G được cả thế giới
đồng thuận triển khai), tần số, các nhà khai thác triển khai, các hệ
thống hạ tần mạng, các nhà sản xuất thiết bị đầu cuối, các cộng đồng
CNTT-VT ở các nước, v.v… và cuối cùng người tiêu dung có chọn nó không
nữa!!!
Theo tôi nhận xét thì đúng như dự đoán của các nhà nghiên cứu về 3G
cách đây gần 10 năm rồi, là khi 3G được triển khai đại trà, máy đầu
cuối phải thay đổi so với máy di động đơn giản, gồm có những điểm chính
như: màng ảnh lớn hơn, nhiều bàn phím hơn, có nhiều chức năng hỗ trợ
hình ảnh âm thanh hơn, pin sử dụng lâu hơn, bộ nhớ lớn hơn, v.v… Thiết
bị đâu cuối luôn là 1 trong 3 yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công
của một môi trường hội tụ lớn đến mức này.
Nguyên văn bởi huankim :
Mạng phép cho em được hỏi 2 câu hỏi dưới đây:
1. Tại sao 3G chỉ được triển khai tại tần số 2.1GHz mà thôi? Còn các tần số khác như 900MHz, 1800MHz… thì như thế nào?
2. Liệu các dịch vụ 3G thanh toán điện tử trên 3G có thể triển khai ngay trong năm này hay không?
Mong nhận được hồi đáp của anh. Chân thành cảm ơn.
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
1. 3G này chỉ giới hạn với công nghệ WCDMA, chứ không áp dụng cho các
công nghệ 3G khác như CDMA 2000 1x, hay TDS-CDMA. Lý do mà tổ chức UMTS
đã đề nghị đến ITU và thế giới sử dụng tần số 2.1GHz để triển khai trên
khắp thế giới là vì:
- Các tần số khác thấp hơn như 450MHz, 800MHz, 900MHz, hay ngay cả
1800MHz đẵ bị chia ra làm quá nhiều mảnh và đang được triển khai bởi
các mạng 2G rồi. Việc dừng các mạng 2G một thời gian để tái quy hoạch
và triển khai 3G trên các tần số này là viêc không tưởng nữa rồi. Bên
cạnh các nhà khai thác bắt buộc phải luôn duy trì dịch vụ cho khách
hàng. Các mạng 3G cần có tần số lớn đủ để triển khai 3G, ít nhất là
10MHz và 20MHz là lý tưởng nhất. Ở các tần số thấp hơn khó lòng mà có
chỗ trống tới 10MHz để triển khai.
- Việc các mạng WCDMA triển khai trên cùng tần số 2.1GHz cũng là để
giảm thiểu phí tổn đầu tư mạng và thiết bị đầu cuối (nhiều mạng cùng
triển khai gia 1thành sản pẩhm giảm thiểu tối đa), cũng như dễ dang
roaming với nhau hơn vì trên cùng 1 dãi tần.
Tuy nhiên, hiện nay một số nhóm cung cấp mạng WCDMA cũng đi khuyến khích triển khai WCDMA trên tần số 900MHz đó.
2. Có thể có giữa các thuê bao của 1 mạng, giữa tài khoản của 1 thuê
bao cho phí tổn thuê bao riêng của họ, v.v… thì được nhưng đây là cách
làm “lách” công nghệ và tạo ra rất nhiều rủi roc ho nhà khai thác, ngân
hàng hoặc/và thuê bao. Nhưng đúng nghĩa là thanh toán điện tử, có Nghĩa
là thương mại điện tử, thì chắc là chưa thể được đâu (như tôi đã giải
thích ở các câu trả lời trên.)
Nguyên văn bởi StEric
Chủ đề của chúng ta ngày hôm nay là:3G- Sự hội tụ giữa Viễn thông và công nghệ thông tin.
Tôi có 1 số câu hỏi cho ông Hoàng Ngọc Diệp như sau:
-Có sự khác biệt gì không giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn
Thông Di Động tại Việt Nam nữa không khi tất cả các nhà khai thác đều
có thể khai thác dịch vụ 3G(theo nhiều cách khác nhau)
-BREW mà SFone đang cung cấp tại thị trường Việt Nam với CDMA 2001x EV
DO có sự khác biệt gì với các nền tảng ứng dụng khác sử dụng các nền
tảng khác trên WCDMA.Liệu đó có phải là 1 lợi thế của SFone.
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
- Với cùng nội dung giấy phép, tần số và điều kiện, chỉ cần có được các
môi trường hoạt động và cạnh tranh công bằng và lành mạnh thì các mạng
3G này sẽ phải tự làm mình khác biệt bằng chiến lược kinh doanh, với
các chiến thuật khác nhau, dịch vụ khác nhau, thiết bị đầu cuối khác
nhau và ngay cả các phân khúc thị phần khác nhau. Những điều này sẽ dễ
dàng chứng tỏ bản lĩnh và sự sáng tạo của mỗi nhà khai thác. 3G chỉ là
một nền tảng hội tụ của VT & CNTT còn sủ dụng như thế nào thì muôn
hình vạn trạng vì 3G các công nghệ hỗ trợ có sẵn tạo được các điều kiện
vô cùng uyển chuyển để cạnh tranh mà trước đây chưa bao giờ có.
- Giống như CDMA, WCDMA có một số nền để phát triển ứng dụng di động,
tương tự như BREW cho CDMA, Qualcomm có một giải pháp cho WCDMA, trước
đây là Monet, mà giờ có đổi tên, đổi tuổi hay không thì tôi không biết.
Cho tới nay, tôi vẫn chưa thấy một nền để phát triển ứng dụng data nào
có những khả năng nổi trội như BREW cả. Vì vậy, Sfone sẽ còn chừng
nhiều nhất là 18 tháng để tận dụng vị thế này, nếu không thì… lúa
Nguyên văn bởi TuyPhong
Nếu
như chú trả lời thì không nhẽ khi triển khai 3g xong thì phải dẹp toàn
bộ hệ thống 2g đi àh và như thế thì 1 khối lượng khổng lồ thiết mạng và
bị đầu cuối ở Việt Nam coi như bỏ àh ? hay phải chạy song song cả 2 hệ
thống mạng 2g và 3g ?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Không phải vậy đâu. Các mạng 2G sẽ tiếp tục hoạt động song song thêm
bao nhiêu năm nữa đó. Những thuê bao 2G sẽ không sử dụng được các dịch
vụ 3G, nhưng các thuê bao 3G thì lại có thể sử dụng cả hai.
Nguyên văn bởi TuyPhong
cháu
xin có 1 câu hỏi : evido của sfone cũng là mạng điện thoại băng rộng nó
cũng cung cấp truyền hình mobile cũng cung cấp internet vậy evido và 3G
khác nhau ở điểm nào ? nó chỉ khác ở băng tầng, bẳng thông ( 3G lớn hơn
evido ) hay còn điểm nào khác nhau nữa ?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
1. EVDO và WCDMA (bạn gọi là 3G) đều là 3G cả.
2. Nếu trên cùng 1 độ rộng của tần số (chẳng hạn như 5MHz) thì EV-DO
các phiên bản khác nhau (như EVDO, EVDO Rev.A, EVDO Rev.B, EVDO Rev.C)
tương đương hay nhỉnh hơn so với WCDMA (WCDMA, HSDPA, HSUPA, HSPA+).
3. Vì WCDMA có mỗi đơn vị tần số là 5MHz và EVDO có mỗi đơn vị tần số
là 1.25MHz nên EVDO có thể cho các nhà khai thác nhiều uyển chuyển hơn.
Chẳng hạn như nêu 1 nhà khai thác chỉ có 8MHz, thì WCDMA chỉ có thể
triển khai 1 đơn vị là 5MHz, trong khi đó EVDO có thể triển khai tới 7
hoặc 8 đơn vị tận dụng được tối đa tài nguyên tần số được cấp. Tuy
nhiên trường hợp này thì rất hiếm xảy ra vì các quốc gia đã cùng đồng ý
quy định WCDMA triển khai trên cùng tần số 2.1GHz với vác đơn vị như
10MHz, 15, MHz hay 20MHz.
Nguyên văn bởi StEric
3G
là sự hội tụ của Viễn Thông và Công nghệ thông tin,vậy theo ông,góc độ
nào có vai trò cao hơn(hay quyết định) trong sự hội tụ này.
Ông có giải thích nào về việc, EVN Telecom đã có EV DO trên tần số 45o
MHz rồi nhưng vẫn thi tuyển lấy giấy phép WCDMA trên tần số
1900-2100,liệu có phải trong trường hợp này,EVN Tel đã đặt Viễn thông
cao hơn Công nghệ thông tin không
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Cả hai đều quan trọng, cao hay thấp hơn không là vấn đề vì theo tôi
viễn thông là nguồn làm ra và quản lý mạch máu mà CNTT chính là nguồn
làm ra và cung cấp máu trong một “thân thể”. Mạch thiếu hay yếu thì
tiêu, mà máu thiếu hay dơ thì cũng ngủm! Tuy nhiên, trong góc độ phức
tạp để 1 quốc gia Đang Phát Triển như VN mình thì CNTT phức tạp hơn rất
nhiều so với viễn thông.
Việc EVNT đấu thầu lấy giấy phép WCDMA với 15MHz tần số là điều cần
phải làm, vì với chỉ 5MHz tại tần số 450MHz, họ chỉ có thể cung cấp các
dịch vụ cơ bản của thoại, sms, và chút ít băng thông rộng nếu đưa EVDO
vào 1 carrier (1.24MHz), nếu đã quyết định dấn thân vào việc kinh doanh
viễn thông với 3G thì 1 trong những mấu chốt quan trọng nhất chính là
đủ tần số, cho nên lấy 15MHz cho mạng 3G mới là điều hợp lý.
Bên cạnh, tự ban đầu mạng CDMA 450 của EVNT còn phải cung cấp kết nối
cho việc đọc chỉ số điện tự động từ xa phục vụ cho hơn 14 triệu đồng hồ
điện các loại là lý do chính nhất, nếu chỉ cần làm được việc này để
điều độ hoá điện năng quốc gia thì cũng đã có thể tiết kiệm vài tỷ Mỹ
kim mỗi năm cho đất nước, nhưng lãnh đạo cấp trung của EVN và EVNT quá
yếu kém trong việc quản lý các giải pháp IT để có thể triển khai hiệu
quả! Nưng cũng dễ hiểu thôi vì CNTT quá phức tạp cho mọi ngành mà các
vị lãnh đạo đất nước thì không biết gì mà luôn luôn có những cách tư
duy như “giá rẻ”, “nước ngoài giúp” hay “nhờ viện trợ”, hoặc thà lãng
phí bạc tỷ qua những thất thoát hay thất bại để “vừa làm, vừa học, vừa
rút kinh nghiệm” hơn là mạnh dạng mướn chuyên gia để giải quyết cho
được, cho nên cứ thất bại dài dài thôi!
Nguyên văn bởi Amateur:
Trong
một số cuộc hội thảo gần đây, nhiều chuyên gia đã đánh giá rằng thị
trường 3G ở Việt Nam hiện nay là một thị trường đầy tiềm năng. Tuy
nhiên, em có một chút e ngại (thiếu tin) rằng nhận định đó hơi chủ
quan. Bởi vì, với một đất nước dân số khoảng 100 triệu người mà có đến
4 giấy phép 3G được cấp, 6 nhà cung cấp dịch vụ 3G [Vinaphone,
Mobifone, Viettel, Vietnamobile, EVNtelecom và Gtel (liên danh)], họ sẽ
cạnh tranh bằng gì? Giá cả, chất lượng dịch vụ… rồi cuối cùng có thể
hòa vốn và lãi hay không? Đó là chưa kể đến sự lãng phí ghê gớm về cơ
sở hạ tầng mạng. Là một nhà quản trị cao cấp, ông nghĩ sao về điều này?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Như vài câu hỏi khác hơi bị ngoài lề, nhưng vì đụng “đúng chỗ ngứa” nên nhất định phải trả lời thôi!
- Việc các chuyên gia đánh giá tiềm năng CHUNG của thị trường 3G trong
nước cũng khá đúng, tuy có hơi quá lạc quan vì họ không nắm được tình
hình thực tế của ½ phần còn lại của 3G là CNTT. Nhưng khi đã nói là
“tiềm năng” thì có Nghĩa là phải dung từ “nếu như” thế này và “nếu như”
thế kia thì những giá trị tiềm năng mới có thể thành sự thực. Cho nên
việc này không quá quan trọng để bàn thảo.
- Việc bạn đưa ra về số lượng các nhà khai thác di động 2G và mới đây 4
giấy phép 3G (chua kể thêm vài nhóm được cấp giấy phép mới khác như
CMC, FPT, Indochina Telecom, v.v…) đúng là việc cực kỳ phản khoa học,
phản quản trị, phản kinh doanh, phản đầu tư, phản v.v… chỉ có không
phản chuyện làm các nhóm (hay các cá nhân) cùng… vui cả! Các nước lớn
hàng đầu thế giới từ tiền bạc (Mỹ, Nhật, Úc, Canada, v.v…), đến các
nước đông dân nhất (như Trung Quốc, Mỹ, Nhật, v.v…), cho đến các nước
tiên tiến nhất về VT & CNTT (như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, v.v…) chả nước
nào có hơn vài nhà khai thác chính, phần còn lại chỉ là các mạng MVNO
(sử dụng các mạng chính để khai thác). Như bạn đưa ra, tài nguyên quốc
gia (tần số không bị chia vụn), đầu tư quốc gia (hạ tần không bị đầu tư
trùng lắp), thị trường quốc gia (không bị chia vụn) mới có thể tạo điều
kiện các nhà khai thác này lớn mạnh làm nguồn lực chính cho sự phát
triển chung của ngành cho mỗi nước! Cách phân chia của VN, cho dù ngày
mai VN mình nếu có sát nhập các nhà khai thác này thành 2 hay 3 nhà
khai thác thì cũng đã quá sức lãng phí! Điều này chứng tỏ:
(a) những người quyết định không có hiểu biết và kinh nghiệm về quản trị cấp vĩ mô;
(b) họ không quan tâm đến sự lãng phí của đất nước – vì nếu là tiền của
riêng họ thì chắc là họ chả quyết định như hế này; hoặc/và
(c) các nhà khai thác trong nước chuyên xài tiền “chùa” chứ không phải
là của họ, vì nếu là tiền của họ thì còn lâu họ mới dám “mạnh dãn đầu
tư” theo cách phân vụn cực kỳ quái đãn như thế này!
Nguyên văn bởi lasthero :
Như
chú đã nói nãy giờ thì việc hội tụ giữa CNTT và VT sẽ mang lại nhiều
lợi ích nhưng cũng mang tới rất nhiều thách thức cho chính phủ và nhà
cung cấp! Vậy theo chú thì việc cung cấp 3G và sự hội tụ giữa CNTT và
VT ở Việt Nam trong 1 hoặc 2 năm nữa liệu có thật sự cần thiết khi
chúng ta có quá nhiều thách thức chưa giải quyết xong?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Những khó khăn và thách thức thì luôn có cho dù có 3G và sự hội tụ giữa
VT & CNTT hay không, tuy nhiên sự phát triển của 3G sẽ tạo sức ép
nhiều hơn, đúng mức hơn để nhà nước và các doanh nghiệp phải củng cố
cách làm việc và nỗ lực hơn nữa để sớm giải quyết những khó khăn chính
trước mắt. Nếu nhìn ở góc độ này thì việc triển khai 3G tại thời điểm
này là rất tốt!
Nguyên văn bởi StEric
Thêm 1 câu hỏi nữa gửi tới ông Hoàng Ngọc Diệp:
Thị trường di động trước đây là 2G với dịch vụ thoại- SMS là chủ yếu.
Nay các mạng động đã có thể cung cấp dịch vụ dữ liệu tốc độ cao(3G),kèm
theo đó là hàng loạt các dịch vụ gia tăng đa dạng khác,liệu đó có phải
là môi trường thuận lợi để các nhà cung cấp dịch vụ chia nhỏ miếng bánh
thị trường cho các doanh nghiệp khác,ví dụ như lập ra các MVNO
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
Với tổng số 60MHz cho 3G WCDMA (và các phiên bản data cao cấp hơn như
HSDPA, HSUPA) thì quả thật đây là một cơ hội chưa từng có cho các nhóm
MVNO được cùng tham gia. Tuy nhiên, như tôi đã trình bày trước, việc hỗ
trợ cho sự thành hình và hoạt động của MVNO, chính phủ cần phải hoàn
thành hàng loạt công việc khác nhau, khá mất thời gian vì tính phức tạp
của các công việc này và ngay cả Bộ TT-TT vẫn chưa hề có kinh nghiệm
trước đây. Những công việc chính là:
- Tạo dựng một nền MVNE (Mobile Virtual Network Enabler) để các MVNO hoạt động.
- Hình thành hàng lang pháp lý, quy chuẩn cho hoạt động của MVNO nhằm
bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan (nhà khai thác chính,
MVNO, khách hàng, v.v…).
- Khuyến khích (và ngay cả quy định) các nhà khai thác hỗ trợ các MVNO
tận dụng HTCS của mình cũng như ấn định những khu vực dịch vụ ưu tiên
cho MVNO.
Bên cạnh, còn một số công việc khác nữa cũng cần phải chỉnh đốn như:
MNP, Clearing House, các hệ thống CCBS, v.v… Nếu không thì sẽ chẳng bao
giờ có MVNO tại VN cả.
Nguyên văn bởi XuanThuy
Thưa
anh Diệp, xin có một câu hỏi gởi đến anh: Cơ hội, thách thức và chổ
đứng của các doanh nghiệp Công nghệ TT Việt Nam là như thế nào trước sự
hội tụ của Viễn thông và CNTT khi triển khai 3G ở Việt Nam ?
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
- Cơ hội: Nhìn chung thì sẽ có rất nhiều cơ hội mới cho những
doanh nghiệp CNTT để đáp ứng cho nhu cầu của các nhà khai thác, các
khách hàng cấp tổ chức/công ty xuyên qua các mạng 3G, và ngay cả cho
ngành CNTT chung, đặc biệt là tham gia vào những phần nhỏ của các hệ
thống IT lớn và phức tạp cấp quốc gia.
- Thách thức & Chỗ đứng: Ngoại trừ các công ty mua bán
sản phẩm, thiết bị, và vài doanh nghiệp cung cấp giải pháp CNTT có bài
bản, hầu hết các doanh nghiệp CNTT đã và vẫn còn đang cứ tiếp tục hoạt
động kinh doanh theo cách “dễ thì làm” và “cơ hội đến thì nắm bắt”,
chính là để đáp ứng những gi khách hàng cần trước mắt không có thứ tự,
không có quy hoạch phù hợp theo một quy trình CNTT nào hết (rất thông
cảm cho họ vì họ phải sống còn). Chính vì cách tiếp cận này mà họ sẽ
phải chuẩn bị lại gần như từ đầu, đặc biệt trong góc độ nguồn nhân lực
chuyên môn sâu. Tôi e ngại rằng ngay cả những công ty CNTT lớn nhất
nước vẫn chưa thể có đủ khả năng để thực hiện những giải pháp IT lớn
cho các bộ ngành (cấp độ xương sống IT của quốc gia), và nếu các doanh
nghiệp CNTT trong nước không hình thành các hợp tác đa phương với nước
ngoài và đội ngũ chuyên gia cao cấp người Việt nước ngoài để kịp có đủ
điều kiện đáp ứng cho những nhu cầu này thì các đối thủ nước ngoài sẽ
chiếm lĩnh toàn bộ các cơ hội lớn này. Nếu tôi cùng các an hem chuyên
gia khác vẫn cứ có tiếng nói thì chúng tôi sẽ khuyến cáo chính phủ tiếp
tục khuyến khích và giữ các cơ hội lớn này cho cộng đồng CNTT trong
nước. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp CNTT trong nước vẫn cứ hoạt động
theo kiểu mày mò và chạy theo cơ hội trước mắt như thế này thì cơ hội
sự tệ hại này sẽ xảy ra rất là lớn, khi đó hạ tần CNTT trong nước sẽ
phải lệ thuộc nước ngoài rất nhiều cũng như các doanh nghiệp CNTT trong
nước khó lòng có thể vượt lên thành những tổ chức lớn cấp quốc gia mà
chỉ đến cấp trung hay nhỏ chuyên làm công cho các công ty CNTT nước
ngoài mà thôi.
Nguyên văn bởi Rhys :
những
bài viết rất có giá trị , cám ơn bác Diệp, thật ra công nghệ thông tin
phải bao gồm viễn thông mới đúng và nên chăng định nghĩa lại ngành công
nghệ thông tin - hệ thống Thông tin mà trong đó bao gồm nền tảng cơ sở
dữ liệu; các lớp truyền tải dữ liệu ; và ứng dụng bề mặt ( bao gồm các
gói phát triển , điện thoại , ứng dụng ...) ; để chuẩn hoá toàn bộ hệ
thống thông tin việt nam cần một thời gian dài nữa để hoàn thiện hành
lang pháp lý, cơ sở hạ tầng, ứng dụng bề mặt.
vài ý kiến nhỏ hy vọng bác Diệp góp ý thêm;
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
đây là chuyện bàn tán cũng đã lâu ở nước ngoài, rồi từ đó thế
giới đã đặt thêm một từ chuẩn ICT (Information and Communication
Technologies) kết hợp cả hai ngành làm một. VN cũng đã thay đổi danh
xưng (Bộ TT-TT từ Bộ Bưu Chính – Viễn Thông) cũng như các hoạt động để
phù hợp, tuy nhiên phần hoạt đông cụ thể thì còn rải rác và sẽ mất thêm
thời gian nữa để thật sự hội tụ.
Có lẽ một trong những việc cần phải làm nhất để đưa ICT (Công Nghệ
Thông Tin và Truyền Thông) lên cho xứng tầm của nó một cách mau chóng
đó là đào tạo để thay đổi tư duy từ cấp chuyên gia và chuyên viên, một
số các đề tài chính để đào tạo gồm:
- Nhập môn và các chức năng chính về khoa học Viễn Thông – cho các nhóm CNTT
- Cấu trúc và các vận hành cơ bản về CNTT – cho các nhóm viễn thông.
- Quan trọng nhất là: Tư duy Quản trị và mức độ quan trọng của Quản trị trong ICT – cho cả hai phía
Nguyên văn bởi Rhys
trong
chương trình học vẫn có một số môn cho ICT nhưng vẫn chưa đủ, nhất là
tư duy quản trị trong ICT hoàn toàn không có, chĩ có môn quản trị doanh
nghiệp, bác Diệp có giới thiệu thêm một số tài liệu chuyên môn nào
không, cho ai thích nghiên cứu thêm ; các bác điều hành cũng có tư liệu
tham khảo để nghiên cứu quy hoạch lại chiến lược , sau đó triển khai
các công nghệ nền tảng tránh lãng phí vô ích. Việc giải quyết cơ sở hạ
tầng ở việt Nam phải thêm vài chục năm nữa mới ổn.
Ông Hoàng Ngọc Diệp (HNDiep) trả lởi :
1. Thật ra “Tư duy quản trị” chỉ là
để những chuyên gia, chuyên viên trong hai ngành này hiểu để tôn trọng
và đặt nó vào đúng vị trí nhằn kết hợp cho hài hoà chứ còn muốn thực
hiện chuyện quản trị cho ngành ICT thành công thì phải học chuyên ngành
về quản trị mới được. Có rất nhiều thông tin về “telecommunication
management” và “IT management” trên internet để anh em tự đọc và nghiên
cứu ở cấp độ “nhập môn”. Trong quá khứ dựa trên môi trường đặc thù của
VN, tôi đã có soạn và giới thiệu đến anh em trong ngành cả hai phần “Tư
duy IT cho cấp quản lý” cho cấp lãnh đạo không biết nhiều về IT, và
“Cấu trúc quản trị viễn thông” cho các chuyên gia viễn thông. Cái khổ
là họ trước đó họ biết lõm bõm (chưa tới nơi) mà cứ tự tin là đã hiểu
hết rồi nên mức độ thu nhận của họ còn quá giới hạn.
2. Mặt khác, để triển khai bất kỳ dự án IT phức tạp và quy mô lớn nào
thành công với tính thực tế cao, ít lãng phí và rủi ro, một tổ chức đòi
hỏi phải có các điều kiện chính sau:
a. Lãnh đạo cao cấp nhất của tổ chức phải hiểu công cụ ICT có thể giúp
gì cho tổ chức, tổ chức phải hỗ trợ hết sức trong việc chuyển đổi các
quy trình hoạt động để tận dụng công cụ này.
b. CIO (hay lãnh đạo dự án ICT) và nhóm chuyên gia phải biết phân tích,
đánh giá nhu cầu quản lý, kinh doanh và các quy trình có sẵn để thành
lập các danh sách “yêu cầu” từ phía tổ chức, như một loại “đơn đặt
hàng”.
c. CIO (hay lãnh đạo dự án ICT) và nhóm chuyên gia này phải có khả năng
chuyển đổi những “yêu cầu” trên thành “yêu cầu kỹ thuật” để có thể hình
thành giải pháp kỹ thuật tổng thể.
d. Nhóm kỹ thuật ICT phải có khả năng hình thành hồ sơ hệ thống ICT
tổng thể với tất cả những giải pháp kỹ thuật khác nhau để đáp ứng được
mọi “yêu cầu kỹ thuật” trên.
Và cuối cùng là một loại các việc làm cụ thể với nhiều công đoạn, nhiều
phương pháp đánh giá chất lượng, quản lý tiến trình, quản lý rủi ro,
thử nghiệm, kiện toàn hệ thống thử nghiệm, hình thành giáo trình đào
tạo người sử dụng, triển khai diện hẹp, triển khai diện rộng, v.v…Ngay
cả sau khi triển khai thành công rồi, tất cả những việc làm và công
đoạn trên sẽ vẫn cứ tiếp tục xoay vòng để nâng cấp, mở rộng hệ thống.
Vì vậy, việc các nhóm kỹ thuật ICT hoặc lãnh đạo quản trị hay kinh
doanh tự nghĩ ra các “phương pháp quản lý” và “cách tiếp cận &
triển khai” mà cả hai nhóm này chưa bao giờ có đào tạo bài bản, kinh
nghiệm thực tế trong việc quản lý 1 dự án ICT thì cơ hội thất bại chừng
80% trở lên.
Theo quan điểm cá nhân tôi thì việc kiện toàn cơ sở hạ tần ICT không phải mất quá nhiều năm đâu, chừng vài năm thôi nếu:
- không phải bị trói buộc bởi những quy định quy trình phản khoa học như hiện nay;
- mạnh dạn mời, mướn các chuyên gia, tổ chức chuyên ngành bên ngoài có
đủ khả năng và kinh nghiệm đứng ra quản lý dự án, biết tận dụng tối đa
những gì đang có;
- có cơ chế thưởng hậu hỷ, phạt nghiêm chỉnh và quản lý minh bạch cho những người/nhóm liên quan đến từng dự án ICT.
|